Cách Tra Can Chi Trong Tự Học
Trọng Tâm
Cách tra Can Chi trong tự học là phương pháp biến một ngày giờ cụ thể thành hệ trụ Can Chi có thể đọc được. Một thời điểm thường có bốn lớp: năm, tháng, ngày, giờ. Mỗi lớp đều có Can và Chi, nhưng cách xác định không giống nhau. Năm có liên hệ với Lập Xuân khi học mệnh lý theo tiết khí; tháng lấy theo tiết khí chứ không lấy theo tên tháng âm thông thường; ngày cần tra theo lịch Can Chi; giờ lấy Chi theo khoảng hai giờ và lấy Can theo Can ngày.
Người mới học thường nghĩ “tra Can Chi” là tìm một tên như Giáp Tý, Ất Sửu rồi dùng ngay. Thực ra, cần hỏi rõ: đang tra Can Chi cho mục đích nào? Ghi năm sinh dân gian, học lịch pháp, lập tứ trụ, xem ngày, hay ghi chép hiện tượng? Mỗi mục đích có mốc thời gian và mức chi tiết khác nhau. Cùng một ngày dương lịch, nếu gần tiết Lập Xuân hoặc gần giờ Tý, cách ghi có thể cần thận trọng hơn.
Bài này không nhằm thay thế lịch vạn niên hay phần mềm lịch. Nó giúp người học có một quy trình kiểm lại, để khi dùng công cụ tra cứu vẫn biết vì sao kết quả ra như vậy. Biết tra là biết đặt câu hỏi đúng: năm đổi ở đâu, tháng thuộc tiết nào, ngày Can Chi lấy từ nguồn nào, giờ đi từ Can ngày ra sao.
Nguồn Gốc
Can Chi vốn là hệ ghi chu kỳ. Thiên Can có mười vị, Địa Chi có mười hai vị, phối thành vòng sáu mươi như đã học ở bài Lục Thập Hoa Giáp. Khi đưa vào lịch, vòng ấy được dùng để ghi năm, tháng, ngày, giờ, khiến thời gian không còn là con số rời mà trở thành một chuỗi khí có tên gọi.
干支紀年,月建以節氣為準。
Can Chi dùng để ghi năm; tháng kiến lấy tiết khí làm mốc chuẩn.
Trong lịch dân dụng, người ta hay quen với tháng âm và ngày âm. Trong mệnh lý, trạch nhật và nhiều phép học thuật, tháng Can Chi lại cần đặt vào hệ tiết khí. Từ Lập Xuân vào tháng Dần, Kinh Trập vào tháng Mão, Thanh Minh vào tháng Thìn, cứ vậy cho đến Tiểu Hàn vào tháng Sửu. Đây là chỗ phân biệt rất quan trọng: tháng Can Chi không đơn giản là tháng Giêng, tháng Hai âm lịch.
Vì hệ Can Chi gắn với chu kỳ, cách học vững là học mốc, học bảng và học cách kiểm. Mốc giúp biết thời điểm đổi; bảng giúp tra nhanh; cách kiểm giúp phát hiện sai khi công cụ khác nhau cho kết quả khác nhau.
Đồ Hình
Sơ đồ dưới đây đặt bốn lớp tra cứu thành một dòng. Năm cho nền vòng lớn, tháng nối với tiết khí, ngày lấy từ lịch Can Chi, giờ lấy từ Chi giờ và Can ngày. Thứ tự tra cần theo đúng: không nhảy bước, không gộp tháng ngày giờ vào một bảng mơ hồ.
Tra Năm
Tra năm Can Chi có hai cách dùng thường gặp. Cách dân dụng lấy năm âm lịch quen thuộc theo Tết âm lịch. Cách học mệnh lý theo tiết khí thường lấy Lập Xuân làm mốc đổi năm khí. Vì vậy, người sinh gần đầu năm dương lịch, nhất là trước hoặc sau Lập Xuân, cần ghi rõ đang dùng mốc nào.
Với người tự học, cách an toàn là tra bằng lịch vạn niên có ghi Can Chi năm, sau đó kiểm lại mốc Lập Xuân nếu mục đích là lập bốn trụ. Không nên chỉ nhìn “tuổi con gì” theo năm âm rồi dùng ngay cho mọi môn. Địa Chi năm theo con giáp có ích trong dân gian, nhưng khi đi vào hệ Can Chi đầy đủ, Thiên Can năm và mốc khí cũng cần được ghi.
| Mục đích | Mốc thường dùng | Cần ghi |
|---|---|---|
| Ghi tuổi dân gian | Tết âm lịch | Năm âm, con giáp, tên năm Can Chi |
| Lập bốn trụ | Lập Xuân | Giờ sinh, nơi sinh, tiết khí gần nhất |
| Ghi hiện tượng | Tùy hệ đang học | Ghi rõ nguồn lịch và quy ước đổi năm |
Tra Tháng
Tháng Can Chi trong học thuật Can Chi đi theo tiết khí. Tháng Dần bắt đầu từ Lập Xuân, tháng Mão từ Kinh Trập, tháng Thìn từ Thanh Minh. Cứ đến một tiết chính, tháng kiến đổi sang Chi kế tiếp. Vì vậy, ngày mùng một âm lịch không phải mốc chính để đổi tháng Can Chi trong các phép dùng tiết khí.
Địa Chi tháng cố định theo mười hai tiết khởi tháng. Thiên Can tháng lại dựa vào Thiên Can năm. Khi biết Can năm, ta lấy Can của tháng Dần làm đầu, rồi đi lần lượt qua mười hai tháng.
| Tiết khởi tháng | Chi tháng | Ghi nhớ |
|---|---|---|
| Lập Xuân | Dần | mở tháng Giêng theo tiết khí |
| Kinh Trập | Mão | khí xuân rõ hơn |
| Thanh Minh | Thìn | cuối xuân, Thổ chuyển tiếp |
| Lập Hạ | Tỵ | mở khí hạ |
| Mang Chủng | Ngọ | Hỏa khí thịnh |
| Tiểu Thử | Mùi | cuối hạ, Thổ chuyển tiếp |
| Lập Thu | Thân | mở khí thu |
| Bạch Lộ | Dậu | Kim khí rõ |
| Hàn Lộ | Tuất | cuối thu, Thổ chuyển tiếp |
| Lập Đông | Hợi | mở khí đông |
| Đại Tuyết | Tý | Thủy khí rõ |
| Tiểu Hàn | Sửu | cuối đông, Thổ chuyển tiếp |
| Can năm | Can tháng Dần | Cách đi tiếp |
|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Bính Dần | Đinh Mão, Mậu Thìn... |
| Ất, Canh | Mậu Dần | Kỷ Mão, Canh Thìn... |
| Bính, Tân | Canh Dần | Tân Mão, Nhâm Thìn... |
| Đinh, Nhâm | Nhâm Dần | Quý Mão, Giáp Thìn... |
| Mậu, Quý | Giáp Dần | Ất Mão, Bính Thìn... |
Ví dụ, năm Giáp hoặc Kỷ thì tháng Dần là Bính Dần. Nếu thời điểm rơi sau Kinh Trập và trước Thanh Minh, tháng là Mão, nên Can tháng đi tiếp thành Đinh Mão. Nếu chỉ nhìn tháng Hai âm lịch mà không xem đã qua Kinh Trập chưa, rất dễ ghi sai tháng.
Tra Ngày
Ngày Can Chi chạy liên tục theo vòng sáu mươi. Vì vậy, cách nên dùng trong tự học là tra bằng lịch vạn niên hoặc công cụ lịch đáng tin cậy, rồi ghi lại nguồn tra. Khi mới học, không cần tự tính ngày Can Chi bằng công thức số học nếu chưa kiểm được lịch chuyển đổi. Điều cần hơn là biết ngày ấy thuộc hoa giáp nào, nằm trong tuần Giáp nào, và có Nạp Âm gì nếu bài học yêu cầu.
Điểm cần chú ý là mốc đổi ngày. Lịch dân dụng đổi ngày theo nửa đêm. Một số hệ học thuật khi xét giờ Tý lại bàn đến ranh giới từ 23 giờ. Người tự học không nên trộn hai quy ước trong cùng một bài ghi. Nếu sinh hoặc ghi hiện tượng gần 23 giờ đến 1 giờ, hãy ghi rõ giờ dương lịch, nơi ghi, múi giờ và quy ước đang dùng.
Tra Giờ
Giờ Can Chi gồm Chi giờ và Can giờ. Chi giờ chia một ngày thành mười hai khoảng, mỗi khoảng hai giờ. Tý thường ứng với 23 giờ đến trước 1 giờ, Sửu từ 1 giờ đến trước 3 giờ, Dần từ 3 giờ đến trước 5 giờ, cứ vậy đi hết Hợi từ 21 giờ đến trước 23 giờ. Khi tra giờ sinh hoặc giờ hiện tượng, cần dùng giờ địa phương đã quy đổi đúng múi giờ.
Can giờ không lấy độc lập. Nó đi từ Can ngày. Trước hết biết ngày thuộc Can nào, rồi lấy Can của giờ Tý theo bảng dưới đây; các giờ sau đi tiếp từng Can theo thứ tự.
| Can ngày | Giờ Tý bắt đầu | Ví dụ đi tiếp |
|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Giáp Tý | Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão... |
| Ất, Canh | Bính Tý | Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão... |
| Bính, Tân | Mậu Tý | Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão... |
| Đinh, Nhâm | Canh Tý | Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão... |
| Mậu, Quý | Nhâm Tý | Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão... |
Ví dụ, nếu ngày là Giáp hoặc Kỷ, giờ Tý là Giáp Tý. Người sinh vào khoảng giờ Ngọ thì ta đi từ Tý đến Ngọ: Tý Giáp, Sửu Ất, Dần Bính, Mão Đinh, Thìn Mậu, Tỵ Kỷ, Ngọ Canh. Vậy giờ là Canh Ngọ. Cách này cần luyện bằng tay vài lần để thấy Can giờ không phải tùy ý ghép với Chi giờ.
Cách Ghi
Một bản ghi Can Chi tốt không chỉ có bốn trụ. Nó cần đủ dữ kiện để sau này kiểm lại. Hãy ghi ngày dương, giờ địa phương, nơi ghi, ngày âm nếu có, tiết khí gần nhất, Can Chi năm tháng ngày giờ, nguồn lịch và ghi chú về mốc đổi năm, đổi tháng, đổi ngày nếu thời điểm nằm gần ranh giới.
| Mục ghi | Nội dung nên có | Lý do |
|---|---|---|
| Thời điểm | Ngày dương, giờ, nơi, múi giờ | để kiểm lại mốc ngày giờ |
| Lịch | Ngày âm, tiết khí, nguồn tra | để biết cách chuyển lịch |
| Bốn lớp | Năm, tháng, ngày, giờ Can Chi | để thấy hệ trụ đầy đủ |
| Ghi chú | Gần Lập Xuân, gần tiết, gần giờ Tý | để tránh nhầm ở ranh giới |
Trong sổ tay, có thể dùng một mẫu ngắn: “Thời điểm - nguồn lịch - tiết khí - năm trụ - tháng trụ - ngày trụ - giờ trụ - ghi chú”. Khi ghi đều như vậy, người học sẽ sớm nhận ra lỗi của chính mình: tháng chưa theo tiết, giờ chưa lấy Can ngày, hoặc quên nguồn tra ngày.
Ví Dụ
Giả sử đang tra một thời điểm để ghi sổ học tập. Trước hết ghi ngày dương và giờ địa phương. Sau đó mở lịch vạn niên để lấy Can Chi ngày, đồng thời xem thời điểm ấy đang ở trước hay sau tiết khí nào. Nếu đã qua Lập Xuân nhưng chưa qua Kinh Trập, tháng thuộc Dần. Nếu năm khí là Giáp, tháng Dần lấy Bính Dần. Nếu ngày tra được là Kỷ, giờ Tý khởi Giáp Tý; từ đó đi đến Chi giờ cần dùng.
Quy trình ấy nghe chậm, nhưng nó tạo thói quen phân lớp. Sau vài lần, người học sẽ thấy câu hỏi tự nhiên hiện ra: năm này đã qua Lập Xuân chưa, tháng này đã qua tiết đổi tháng chưa, ngày này lấy từ nguồn nào, giờ này thuộc Chi nào, Can giờ có đi từ Can ngày chưa. Khi các câu hỏi ấy rõ, việc tra lịch trở nên nhẹ hơn nhiều.
Nếu hai nguồn lịch cho kết quả ngày Can Chi khác nhau, đừng vội chọn theo cảm giác. Hãy kiểm ngày dương, múi giờ, lịch âm nhuận, mốc đổi ngày và phiên bản lịch. Sai khác thường đến từ nhập nhầm ngày, dùng múi giờ khác, hoặc dùng quy ước đổi ngày khác nhau.
Nhầm Lẫn Thường Gặp
Lỗi đầu tiên là lấy tháng âm làm tháng Can Chi. Trong nhiều phép học, tháng Can Chi theo tiết khí. Một ngày còn trong tháng âm mới nhưng chưa qua tiết đổi tháng thì tháng Can Chi có thể vẫn thuộc Chi cũ.
Lỗi thứ hai là tra năm theo tuổi dân gian rồi dùng ngay cho bốn trụ. Với thời điểm gần Lập Xuân, cần kiểm mốc khí. Người sinh trước Lập Xuân có thể vẫn thuộc năm khí trước trong hệ đang học.
Lỗi thứ ba là lấy Chi giờ đúng nhưng Can giờ sai. Can giờ phải dựa vào Can ngày. Nếu ngày Giáp, Kỷ thì giờ Tý khởi Giáp Tý; nếu ngày Ất, Canh thì giờ Tý khởi Bính Tý. Nhầm bảng này khiến trụ giờ sai dù khoảng giờ đã đúng.
Lỗi thứ tư là không ghi nguồn lịch. Khi về sau muốn kiểm lại, người học không biết mình đã dùng lịch nào, múi giờ nào, hay quy ước đổi ngày nào. Một dòng ghi nguồn nhỏ giúp tiết kiệm rất nhiều công sức.
Ghi Nhớ
Cách tra Can Chi trong tự học có năm câu cần thuộc: năm xem mốc đổi năm; tháng theo tiết khí; ngày tra lịch Can Chi; giờ lấy Chi giờ rồi lấy Can theo Can ngày; mọi kết quả đều cần ghi nguồn.
Khi mới học, hãy ưu tiên đúng quy trình hơn tốc độ. Tra chậm mà ghi rõ sẽ giúp người học hiểu cấu trúc Can Chi sâu hơn. Tra nhanh nhưng bỏ mốc Lập Xuân, bỏ tiết khí, bỏ Can ngày của giờ thì kết quả dễ đẹp trên giấy mà khó dùng khi học tiếp.