Trang chủ Mục lục

Sinh Khắc Chế Hóa

Sinh khắc là quan hệ nền của Ngũ Hành; chế hóa là cách đưa quan hệ ấy về đúng mức, để Khí có đường vận hành mà không rơi vào bồi quá, khắc quá hay nghẽn dòng.

Trọng Tâm

Sau khi học Ngũ Hành, quan hệ Ngũ Hành và vượng nhược, người học mới có nền để bước vào sinh khắc chế hóa. Nếu chỉ thuộc “Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ” hoặc “Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy”, ta mới biết tên quan hệ. Muốn dùng được trong luận đoán, còn phải biết quan hệ ấy đến với ai, mạnh yếu ra sao, đúng lúc hay lệch lúc, và có cần điều chỉnh hay không.

Sinh không chỉ là tốt. Sinh là truyền lực, nuôi dưỡng, mở đường cho một hành phát ra. Nhưng hành đã đầy mà còn được sinh thêm, cái sinh ấy có thể thành thừa. Khắc không chỉ là xấu. Khắc là ước thúc, đặt khuôn, cắt bớt cái lan quá. Nhưng khắc sai lúc, khắc quá lực, hoặc khắc vào cái đang yếu thì dễ thành tổn.

Chế và hóa vì vậy không phải phần trang trí sau sinh khắc. Chế là biết dùng lực để giữ mức. Hóa là biết chuyển dòng, khiến quan hệ căng có đường thông. Một bài luận có chiều sâu thường không dừng ở câu “hành này sinh hành kia” hay “hành này khắc hành kia”, mà hỏi tiếp: sinh ấy có nên nhận không, khắc ấy có đủ chế không, có cần tiết bớt, có cần thông quan hay không.

Điểm cần giữ: sinh khắc là ngôn ngữ của quan hệ; chế hóa là nghệ thuật điều tiết quan hệ. Không có vượng nhược làm thước đo, chế hóa rất dễ thành công thức cứng.

Nguồn Gốc

Ngũ Hành vốn được nói trước hết bằng tính: Thủy nhuận hạ, Hỏa viêm thượng, Mộc khúc trực, Kim tòng cách, Thổ giá sắc. Từ tính ấy mới sinh ra quan hệ. Thủy có tính thấm xuống nên có thể nuôi Mộc; Mộc có tính sinh phát nên có thể làm củi cho Hỏa; Kim có tính tòng cách nên có thể cắt, sửa, lập khuôn; Thổ có tính chứa và chuyển nên có thể nhận, nuôi, giữ.

木生火,火生土,土生金,金生水,水生木。木克土,土克水,水克火,火克金,金克木。

Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Công thức này cần thuộc, nhưng không nên dừng ở thuộc. Cái đáng học là trong vòng sinh đã có hao, trong vòng khắc đã có chế. Mộc sinh Hỏa thì Hỏa được bồi, nhưng Mộc cũng xuất khí. Kim khắc Mộc thì Mộc bị chế, nhưng Kim cũng phải phát lực. Vậy một quan hệ luôn có hai mặt: mặt của bên nhận tác động và mặt của bên phát tác động.

亢則害,承乃制,制則生化。

Quá thịnh thì sinh hại; có lực tiếp nhận để chế; chế rồi mới sinh hóa.

Câu này là chìa khóa của bài. Khi một khí quá thịnh, chỉ thêm sinh thường làm lệch thêm. Cần có lực chế hoặc đường tiết. Khi hai khí đối nhau, chỉ nhìn khắc thường làm lời luận khô. Cần hỏi có thể hóa hay không, nghĩa là có hạ nhiệt thế đối đầu để tạo đường vận hành mới hay không.

Sinh

Sinh là bồi dưỡng. Hành này sinh hành kia, tức khí của hành trước chuyển sang nuôi hành sau. Thủy sinh Mộc như nước thấm vào cây; Mộc sinh Hỏa như củi đưa lửa lên; Hỏa sinh Thổ như cháy rồi thành tro đất; Thổ sinh Kim như đất kết khoáng; Kim sinh Thủy như khí lạnh ngưng tụ thành nước theo tượng cổ.

Trong luận học, sinh thường được đọc theo hai chiều. Với hành được sinh, đó là sinh nhập, có nguồn bồi. Với hành đi sinh, đó là sinh xuất, có sự hao ra. Người mệnh Thủy gặp Kim sinh Thủy thì Thủy được sinh nhập. Nhưng nếu đang xét Kim, Kim sinh Thủy là Kim xuất khí. Cùng một quan hệ, đổi chủ thì đổi nghĩa.

Sinh dùng tốt khi cái cần dùng đang thiếu lực, có thể nhận nguồn bồi, và nguồn bồi không làm toàn cục lệch thêm. Mộc yếu gặp Thủy vừa thì được nuôi. Hỏa yếu gặp Mộc vừa thì có củi. Nhưng nếu Mộc đã quá vượng mà lại thêm Thủy, cây rậm thêm; nếu Hỏa đã bốc mà lại thêm Mộc, lửa càng khó giữ. Vì vậy, sinh phải đi cùng câu hỏi “có cần sinh không”.

Sinh cũng cần xét chất của nguồn sinh. Nguồn sinh có sạch hay tạp, có đủ lực hay không, có bị ngăn bởi khắc khác không, có sinh đúng chỗ không. Một nguồn sinh yếu chưa chắc bồi nổi hành cần dùng. Một nguồn sinh bị tiết hoặc bị khắc trước khi đến nơi có thể chỉ là tên gọi trên giấy.

Khắc

Khắc là ước thúc. Mộc khắc Thổ vì rễ cây xuyên đất; Thổ khắc Thủy vì đất đê giữ nước; Thủy khắc Hỏa vì nước làm lửa hạ; Hỏa khắc Kim vì lửa nung chảy kim; Kim khắc Mộc vì dao rìu cắt cây. Khắc có mặt giới hạn, sửa trị, đưa cái lan quá về khuôn.

Khắc vừa là cần thiết. Cây cần cắt tỉa mới thành dáng; nước cần bờ mới thành dòng; lửa cần giới hạn mới thành bếp; kim cần lửa mới thành khí cụ; đất cần rễ cây xuyên vào mới thông sinh cơ. Nếu chỉ sợ chữ khắc, người học sẽ bỏ mất mặt điều chỉnh của Ngũ Hành.

Nhưng khắc cũng có thể gây tổn. Hành bị khắc đang yếu mà gặp lực khắc mạnh thì dễ suy thêm. Hành đi khắc nếu không đủ lực cũng bị hao, thậm chí phản chịu tổn. Kim yếu chặt Mộc cứng thì Kim tổn; Thổ mỏng ngăn nước lớn thì Thổ vỡ; Hỏa yếu nung Kim dày thì Hỏa tắt. Vì vậy khắc phải xét cả bên khắc lẫn bên bị khắc.

Đọc khắc cần hỏi: khắc này là kỷ luật hay áp lực? Là cắt tỉa hay làm gãy? Là giữ nước thành ao hay vỡ bờ? Là chế cái quá hay đè cái thiếu? Chỉ khi trả lời được những câu hỏi ấy, chữ khắc mới thoát khỏi nghĩa một chiều.

Đồ Hình

Sơ đồ dưới đây đặt “Toàn cục” ở trung tâm. Sinh và khắc là hai lực đi vào để bồi hoặc ước; chế và hóa là hai cách xử lý để giữ mức hoặc thông dòng.

Sơ đồ Sinh Khắc Chế Hóa trong Ngũ Hành Toàn cục ở trung tâm, bốn hướng gồm Sinh, Khắc, Chế và Hóa với mũi tên thẳng thể hiện đường vận hành của khí. Sinh Khắc Chế Hóa bồi đúng chỗ, ước đúng mức, thông đúng dòng bồi lực ước giữ thông dòng Toàn Cục 全局 Sinh bồi cái cần dùng Khắc ước cái quá mức Chế giữ lực vừa chỗ Hóa dẫn khí thành thông

Đọc hình theo trung tâm: trước hết xem toàn cục cần gì. Nếu cái cần dùng yếu, sinh là đường bồi. Nếu cái gây lệch quá mạnh, khắc là đường ước. Khi lực khắc được đặt vừa chỗ, đó là chế. Khi hai bên đối nhau mà có hành trung gian dẫn khí, đó là hóa. Không nên đảo thứ tự này, vì chưa biết toàn cục cần gì thì khó nói sinh hay khắc nên dùng.

Chế

Chế là dùng lực để giữ mức. Trong sinh khắc, khắc là quan hệ; chế là cách dùng quan hệ khắc cho đúng. Thủy khắc Hỏa là quan hệ. Nếu Hỏa đang quá vượng, dùng Thủy vừa đủ để hạ Hỏa, đó là chế. Nếu Thủy quá mạnh làm Hỏa tắt lạnh, đó không còn là chế đúng mức mà thành tổn.

Chế cần ba điều kiện. Thứ nhất, phải có cái quá hoặc cái lệch đáng chế. Thứ hai, lực chế phải đủ nhưng không quá tay. Thứ ba, sau khi chế, khí phải còn đường sinh hóa, nghĩa là toàn cục không bị bế. Chế mà làm mọi thứ đứng lại thì chưa phải điều tiết khéo.

Trong đời sống, chữ chế có thể hiểu như kỷ luật, khuôn phép, bờ đê, dao tỉa, lò nung, luật lệ. Kỷ luật giúp người nhiều tán loạn gom lại. Bờ đê giúp nước thành dòng. Dao tỉa giúp cây thành tán. Lò nung giúp kim loại thành đồ dùng. Nhưng kỷ luật quá nặng, bờ quá chặn, dao quá sâu, lửa quá gắt thì từ chế chuyển sang hại.

Vì vậy, học chế là học liều lượng. Không phải thấy khắc là dùng, cũng không phải thấy quá là ép. Cần xét hành bị chế còn căn không, hành đi chế có đủ lực không, có hành nào đứng giữa để làm mềm lực không, và mục đích của bài luận là chữa lệch hay tạo dụng.

Hóa

Hóa là chuyển. Trong Ngũ Hành, hóa thường được hiểu là đưa một thế căng sang một đường vận hành khác, để hai khí không còn đụng nhau trực diện. Hóa không phải làm mất quan hệ cũ, mà là tìm đường để quan hệ ấy trở thành sinh cơ hoặc bớt xung lực.

Ví dụ Thủy khắc Hỏa. Nếu Thủy và Hỏa đối nhau mạnh, thêm Mộc làm trung gian có thể chuyển thành Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa. Thế khắc trực tiếp được dẫn qua đường sinh. Kim khắc Mộc, nếu có Thủy đủ lực, có thể thành Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Đây là ý thông quan: dùng hành trung gian để nối hai bên.

Nhưng thông quan không phải cứ thêm hành trung gian là xong. Hành trung gian phải có lực, đúng vị trí, và thật sự nằm trên đường khí đi. Nếu Mộc quá yếu, không thể nối Thủy Hỏa. Nếu Thủy đã tràn, thêm Mộc nhỏ chưa chắc gánh nổi. Nếu Kim và Mộc không thật sự giao chiến trong toàn cục, cố thêm Thủy có thể thành thừa.

Hóa còn có nghĩa làm mềm một quan hệ khô. Khắc mà có hóa thì bớt cứng. Sinh mà có hóa thì bớt ứ. Cục diện có hóa thường cho thấy khí có đường ra, người có cách xử lý, sự việc có cửa chuyển. Nhưng hóa vẫn phải dựa vào thực lực của các hành, không nên hiểu như một lối thoát có sẵn trong mọi trường hợp.

Thừa Vũ

Khi sinh khắc mất mức, cổ học thường nói đến thừa và vũ. Thừa là lấn quá: hành vốn khắc hành kia, nay vì quá mạnh nên khắc quá tay. Kim vốn khắc Mộc, nhưng Kim quá mạnh mà Mộc yếu thì cây bị chặt quá sâu. Thủy vốn khắc Hỏa, nhưng Thủy quá mạnh mà Hỏa yếu thì lửa tắt lạnh. Thừa là khắc vượt mức điều tiết.

Vũ là phản khắc: hành đáng lẽ bị khắc lại vì quá mạnh hoặc vì bên khắc quá yếu mà quay lại làm tổn bên khắc. Kim khắc Mộc, nhưng Mộc quá cứng, Kim quá yếu thì dao sứt. Thổ khắc Thủy, nhưng nước lớn mà đất mỏng thì bờ vỡ. Hỏa khắc Kim, nhưng Kim dày mà Hỏa yếu thì lửa hao.

Thừa và vũ nhắc người học không được đọc sinh khắc như bảng một chiều. Tên quan hệ chỉ nói đường lý thuyết. Kết quả thật còn tùy lực. Nếu không xét vượng nhược, ta dễ nói “Kim khắc Mộc” rồi quên hỏi Kim có đủ sắc không, Mộc có quá cứng không, mùa đang giúp ai, vị trí đang nâng bên nào.

Sinh cũng có lỗi tương tự. Sinh quá có thể làm đầy thêm cái đã dư. Sinh không nổi có thể chỉ là ý muốn bồi mà thiếu lực. Sinh bị ngăn có thể chưa tới nơi đã bị khắc, bị tiết, hoặc bị hợp hóa theo đường khác. Vì vậy, sinh khắc chế hóa luôn phải đọc cùng lực khí.

Bảng Dụng

Bảng dưới đây không dùng để thay cho luận đoán. Nó chỉ là khung ghi nhớ khi tự học, giúp phân biệt mục đích của từng chữ.

Chữ Nghĩa chính Khi nên xét Điểm cần tránh
Sinh Bồi dưỡng, nuôi, truyền lực Hành cần dùng đang yếu, có thể nhận nguồn bồi Sinh thêm cho cái đã quá vượng
Khắc Ước thúc, giới hạn, đặt khuôn Hành gây lệch đang quá mạnh hoặc cần được sửa Khắc vào cái đang yếu, hoặc bên khắc không đủ lực
Chế Dùng khắc đúng mức để giữ cân bằng Có cái quá cần giảm, nhưng vẫn phải giữ đường sinh hóa Ép quá tay làm toàn cục bế hoặc tổn
Hóa Chuyển dòng, thông quan, làm mềm thế đối Hai khí căng nhau, có hành trung gian đủ lực để nối Thêm trung gian máy móc khi không có đường khí thật
Tiết Cho khí đi ra qua hành được sinh Hành quá vượng cần xả bớt mà không nên khắc thẳng Tiết cái đang yếu khiến nó hao thêm

Điều Kiện

Sinh khắc chế hóa muốn đọc chắc cần có điều kiện. Điều kiện đầu tiên là chủ khách. Đang xét hành nào làm chủ? Yếu tố nào đến tác động? Nếu chủ là Mộc, Hỏa là sinh xuất; nếu chủ là Hỏa, Mộc là sinh nhập. Không rõ chủ khách, sinh khắc rất dễ đảo nghĩa.

Điều kiện thứ hai là vượng nhược. Hành chủ đang có lực hay thiếu lực? Hành khách có đủ lực tác động không? Hành trung gian trong thông quan có đủ sức nối hai bên không? Đây là phần lượng. Không có phần lượng, chế hóa chỉ còn là lời đẹp.

Điều kiện thứ ba là thời vị. Một quan hệ đúng mùa khác trái mùa; ở vị trí phát lực khác ở vị trí khuất; gặp căn khác không căn; có trợ khác cô lập. Cùng là Thủy sinh Mộc, nhưng Thủy mùa đông có nguồn khác Thủy cạn cuối hạ. Cùng là Kim khắc Mộc, nhưng Kim thu lệnh khác Kim bị Hỏa nung.

Điều kiện cuối là mục đích luận. Trong mệnh lý, câu hỏi có thể là hành nào làm dụng. Trong phong thủy, câu hỏi có thể là phương vị nào cần kích hoạt hay giảm bớt. Trong chọn ngày, câu hỏi có thể là ngày giờ có trợ việc hay gây trở. Mục đích khác thì cách dùng sinh khắc chế hóa cũng khác.

Cách Tiếp Cận

Khi gặp một quan hệ Ngũ Hành trong tự học, hãy đi chậm theo một trình tự. Trước hết gọi tên hành chủ. Sau đó gọi tên hành khách. Tiếp theo xác định quan hệ sinh, khắc, tỷ hòa, tiết hay thông quan. Rồi xét vượng nhược của từng bên. Sau cùng mới hỏi cần sinh, cần khắc, cần chế, cần hóa hay cần để yên.

  1. Chủ là hành nào, khách là hành nào?
  2. Quan hệ đang là sinh nhập, sinh xuất, khắc nhập, khắc xuất, tỷ hòa hay có trung gian?
  3. Chủ đang vượng, tướng, hưu, tù, tử hay có căn trợ riêng?
  4. Khách có đủ lực tác động không, hay chỉ có tên mà không có lực?
  5. Toàn cục đang cần bồi, cần tiết, cần chế, cần hóa hay cần giữ nguyên?

Năm câu này giúp người học tránh hai lỗi thường gặp. Một là thấy sinh liền cho là nên thêm. Hai là thấy khắc liền cho là nên tránh. Trong thực tế học thuật, có lúc sinh là hao, khắc là cứu; có lúc chế là cần, hóa là đẹp; cũng có lúc càng sửa càng rối vì chưa biết cái gì là chủ.

Ghi Nhớ

Sinh khắc chế hóa là phần làm cho Ngũ Hành trở thành một ngôn ngữ sống. Sinh cho biết khí nuôi nhau. Khắc cho biết khí ước nhau. Chế cho biết cách giữ cái quá. Hóa cho biết cách mở đường khi hai khí căng nhau. Bốn chữ ấy nếu tách khỏi chủ khách và vượng nhược thì dễ thành mẹo; đặt đúng vào toàn cục thì thành phương pháp đọc.

Người học nên ghi bài này vào sổ tay bằng ví dụ nhỏ. Mỗi lần gặp một quan hệ, hãy ghi: hành chủ, hành khách, chiều sinh khắc, lực mạnh yếu, mục đích dụng, và cách xử lý. Ghi lâu ngày, ta sẽ thấy Ngũ Hành không phải một bảng thuộc lòng, mà là cách quan sát dòng Khí đang vào, ra, bị giữ, được mở, bị quá hoặc được thông.

Sau bài này, khi bước sang Thể Dụng hay Lục Thân, nền sinh khắc chế hóa sẽ giúp lời đọc bớt vội. Bởi Thể Dụng cũng là chủ khách, Lục Thân cũng từ sinh khắc mà ra. Học chắc bốn chữ sinh, khắc, chế, hóa là giữ được gốc trước khi đi vào các môn ứng dụng sâu hơn.

Trang chủ Mục lục