Nạp Giáp
Trọng Tâm
Nạp Giáp, nói rộng, là phép nạp Can Chi vào quẻ. Chữ "Giáp" trong tên gọi không chỉ nói riêng Thiên Can Giáp, mà thường được dùng để gọi cả hệ nạp Thiên Can và Địa Chi vào sáu hào. Một quẻ kép vốn có sáu hào âm dương. Sau khi nạp Giáp, mỗi hào có thêm Can, Chi và hành của Chi. Từ đó người học mới có thể đi tiếp sang xung hợp, sinh khắc, nguyệt nhật, Thế Ứng và Lục Thân.
Bài Tầm Cung Pháp giúp tìm cung và hành cung của quẻ. Bài này thêm một lớp dữ kiện khác: mỗi hào mang Can Chi nào. Hai việc ấy không thay thế nhau. Tầm cung cho biết gốc cung; Nạp Giáp cho biết từng hào đang mang nhãn thời khí nào. Khi sang bài Lục Thân Nạp Quái, hai lớp này sẽ gặp nhau: lấy hành cung làm gốc, rồi đối chiếu với hành của từng hào đã nạp Chi.
Điểm cần giữ là Nạp Giáp vẫn thuộc phần an quẻ, chưa phải phần luận đoán. Nếu ví một quẻ như một bản ghi, thì tầm cung là ghi nhà của quẻ, còn Nạp Giáp là ghi tên tuổi của từng hào. Ghi sai ở bước này thì các bước sau dễ lệch theo.
Nguồn Gốc
Nạp Giáp thường được đặt trong mạch Dịch học tượng số từ đời Hán, đặc biệt gần với truyền thống Kinh Phòng và các phép bói Dịch về sau. Khi Dịch học chuyển từ việc đọc lời quẻ, lời hào sang việc lập mô hình sáu hào để xét sinh khắc, cần có một cầu nối giữa quẻ Dịch và hệ Can Chi. Nạp Giáp ra đời trong nhu cầu ấy: đem hệ lịch pháp, ngũ hành, phương vị và thời khí đặt vào từng hào.
乾納甲壬,坤納乙癸;艮納丙,兌納丁;坎納戊,離納己;震納庚,巽納辛。
Càn nạp Giáp Nhâm, Khôn nạp Ất Quý; Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh; Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ; Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân.
Câu quyết trên là xương sống của phần Nạp Can. Càn và Khôn có hai Can vì khi làm nội quái và ngoại quái sẽ dùng Can khác nhau. Sáu quái còn lại dùng một Can cho cả phần nội và phần ngoại. Khi phối với Địa Chi, sáu hào mới thành những cặp như Giáp Tý, Giáp Dần, Mậu Thân, Mậu Tuất.
八卦成列,象在其中矣;因而重之,爻在其中矣。
Tám quái bày thành hàng thì tượng ở trong đó; nhân đó chồng lên, thì hào ở trong đó.
Câu trong Hệ Từ truyện nhắc rằng khi tám quái được chồng lên, tầng sáu hào hiện ra. Nạp Giáp là cách các nhà tượng số đặt thêm Can Chi vào tầng sáu hào ấy. Vì vậy, Nạp Giáp không nên được hiểu như một phần trang trí bên ngoài quẻ, mà là phép định danh để quẻ có thể đi vào hệ sinh khắc của Can Chi.
Đồ Hình
Sơ đồ dưới đây tóm quy trình nạp Giáp cho một quẻ kép. Khi thực hành, hãy đi đúng chiều này: gọi quẻ, tách nội ngoại, nạp Can Chi, rồi mới ghi sáu hào.
Nạp Can
Nạp Can là đặt Thiên Can vào quái. Khi một quái làm nội quái, ba hào dưới lấy Can của phần nội. Khi một quái làm ngoại quái, ba hào trên lấy Can của phần ngoại. Sáu quái Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn dùng cùng một Can cho cả nội và ngoại; riêng Càn và Khôn phân biệt nội ngoại.
| Quái | Hán tự | Nội quái | Ngoại quái | Ghi nhớ |
|---|---|---|---|---|
| Càn | 乾 | Giáp | Nhâm | Càn nạp Giáp Nhâm |
| Khôn | 坤 | Ất | Quý | Khôn nạp Ất Quý |
| Cấn | 艮 | Bính | Bính | Cấn nạp Bính |
| Đoài | 兌 | Đinh | Đinh | Đoài nạp Đinh |
| Khảm | 坎 | Mậu | Mậu | Khảm nạp Mậu |
| Ly | 離 | Kỷ | Kỷ | Ly nạp Kỷ |
| Chấn | 震 | Canh | Canh | Chấn nạp Canh |
| Tốn | 巽 | Tân | Tân | Tốn nạp Tân |
Khi mới học, chỉ cần nhớ rõ một điểm: Can đi theo quái, không đi theo tên quẻ chung. Trong quẻ Thủy Lôi Truân, ba hào dưới là Chấn nên lấy Canh; ba hào trên là Khảm nên lấy Mậu. Không lấy một Can cho cả sáu hào nếu quẻ không phải quẻ thuần.
Nạp Chi
Nạp Chi là đặt Địa Chi vào từng hào. Bảng dưới đây ghi từ hào một lên hào sáu. Ba cột đầu là nội quái, ba cột sau là ngoại quái. Khi gặp một quẻ kép, lấy ba Chi dưới theo nội quái, lấy ba Chi trên theo ngoại quái.
| Quái | Hào 1 | Hào 2 | Hào 3 | Hào 4 | Hào 5 | Hào 6 | Mạch |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Càn | Tý | Dần | Thìn | Ngọ | Thân | Tuất | dương, đi cách một Chi |
| Chấn | Tý | Dần | Thìn | Ngọ | Thân | Tuất | dương, cùng mạch Càn |
| Khảm | Dần | Thìn | Ngọ | Thân | Tuất | Tý | dương, khởi Dần |
| Cấn | Thìn | Ngọ | Thân | Tuất | Tý | Dần | dương, khởi Thìn |
| Khôn | Mùi | Tỵ | Mão | Sửu | Hợi | Dậu | âm, đi cách một Chi |
| Tốn | Sửu | Hợi | Dậu | Mùi | Tỵ | Mão | âm, khởi Sửu |
| Ly | Mão | Sửu | Hợi | Dậu | Mùi | Tỵ | âm, khởi Mão |
| Đoài | Tỵ | Mão | Sửu | Hợi | Dậu | Mùi | âm, khởi Tỵ |
Bảng này cần được đọc từ dưới lên. Hào một là sơ hào ở đáy quẻ, hào sáu là thượng hào ở đỉnh quẻ. Người mới học rất dễ đọc từ trên xuống theo thói quen nhìn văn bản; riêng khi an hào, hãy luôn trở lại trật tự từ dưới lên.
Cách Nạp
Khi an Nạp Giáp cho một quẻ kép, không cần làm nhiều việc cùng lúc. Hãy đi chậm theo năm bước. Trước hết gọi đúng tên quẻ, sau đó tách nội ngoại quái. Tiếp theo lấy Can cho mỗi phần, lấy Chi cho mỗi hào, rồi ghép Can với Chi thành sáu cặp.
- Gọi quẻ: xác định ngoại quái ở trên và nội quái ở dưới.
- Lấy Can: ba hào dưới lấy Can của nội quái, ba hào trên lấy Can của ngoại quái.
- Lấy Chi: ba hào dưới dùng ba Chi đầu của nội quái, ba hào trên dùng ba Chi sau của ngoại quái.
- Ghép lại: mỗi hào ghi một cặp Can Chi, ví dụ Canh Tý hoặc Mậu Thân.
- Ghi hành: lấy hành của Địa Chi để chuẩn bị đối chiếu với hành cung trong bài Lục Thân.
Cách ghi nên thống nhất từ hào một đến hào sáu. Có thể trình bày mỗi hào thành một dòng: Hào một, âm hay dương, Can Chi, hành Chi, ghi chú. Khi luyện tập nhiều quẻ, cách ghi đều tay giúp phát hiện lỗi nhanh hơn.
Ví Dụ
Thủy Lôi Truân
Thủy Lôi Truân có ngoại quái Khảm, nội quái Chấn. Nội Chấn nạp Canh, ba Chi dưới là Tý, Dần, Thìn. Ngoại Khảm nạp Mậu, ba Chi trên là Thân, Tuất, Tý. Vậy sáu hào từ dưới lên được ghi như sau.
| Hào | Thuộc phần | Quái | Can Chi | Hành Chi |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Nội | Chấn | Canh Tý | Thủy |
| 2 | Nội | Chấn | Canh Dần | Mộc |
| 3 | Nội | Chấn | Canh Thìn | Thổ |
| 4 | Ngoại | Khảm | Mậu Thân | Kim |
| 5 | Ngoại | Khảm | Mậu Tuất | Thổ |
| 6 | Ngoại | Khảm | Mậu Tý | Thủy |
Bài Tầm Cung Pháp cho biết Truân thuộc cung Khảm, hành cung Thủy, vị Nhị Thế. Bài này cho biết từng hào của Truân mang Can Chi nào. Khi sang Lục Thân, lấy hành cung Thủy đối chiếu với hành Chi từng hào: đồng hành là Huynh Đệ, hành được Thủy sinh là Tử Tôn, hành bị Thủy khắc là Thê Tài, hành khắc Thủy là Quan Quỷ, hành sinh Thủy là Phụ Mẫu.
Hỏa Thiên Đại Hữu
Hỏa Thiên Đại Hữu có ngoại quái Ly, nội quái Càn. Nội Càn nạp Giáp, ba Chi dưới là Tý, Dần, Thìn. Ngoại Ly nạp Kỷ, ba Chi trên là Dậu, Mùi, Tỵ. Sáu hào được ghi: Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Kỷ Dậu, Kỷ Mùi, Kỷ Tỵ. Ở bài trước, Đại Hữu thuộc cung Càn, hành cung Kim, vị Quy Hồn. Vì vậy khi học tiếp, hành cung Kim sẽ được đối chiếu với Thủy, Mộc, Thổ, Kim, Thổ, Hỏa của sáu hào này.
Trong Lục Hào
Trong Lục Hào, Nạp Giáp có vai trò đưa quẻ vào hệ Can Chi. Địa Chi của từng hào giúp xét ngũ hành, xung hợp, hình hại, nguyệt phá, nhật xung, tuần không và nhiều quan hệ khác. Thiên Can giúp hoàn chỉnh cặp Can Chi, đồng thời được một số trường phái dùng thêm trong phép xét khí và phép an phụ trợ.
Điều quan trọng nhất ở giai đoạn nền là đừng nhảy thẳng sang luận đoán. Một hào ghi "Mậu Thân" trước hết cho biết Chi Thân thuộc Kim. Từ Kim ấy mới đối chiếu với hành cung để đặt Lục Thân. Sau đó mới xét hào ấy đang vượng hay suy theo tháng ngày, có động hay tĩnh, có bị xung hợp hay không.
Do đó, trật tự học nên là: nhận quẻ, tầm cung, nạp Giáp, an Thế Ứng, an Lục Thân, rồi mới xét sinh khắc. Người học giữ được trật tự này sẽ ít bị rối khi bảng dữ kiện bắt đầu dày lên.
Nhầm Lẫn Thường Gặp
Lỗi thứ nhất là đọc hào từ trên xuống. Quẻ được vẽ có thể nhìn từ trên xuống cho tiện, nhưng khi an Nạp Giáp phải ghi từ hào một ở dưới lên hào sáu ở trên. Chỉ cần đảo chiều, toàn bộ Can Chi sẽ sai vị trí.
Lỗi thứ hai là lấy Can của cung thay cho Can của quái. Nạp Can đi theo nội quái và ngoại quái đang tạo thành quẻ, không đi theo cung chủ trong Bát Quái Phân Cung. Cung dùng cho Lục Thân, còn Can Chi từng hào dùng theo quái trên dưới.
Lỗi thứ ba là quên phân biệt nội ngoại của Càn và Khôn. Càn ở dưới dùng Giáp, Càn ở trên dùng Nhâm. Khôn ở dưới dùng Ất, Khôn ở trên dùng Quý. Đây là điểm rất hay bị nhầm khi gặp quẻ có Càn hoặc Khôn.
Lỗi thứ tư là chỉ ghi Can Chi mà quên hành của Chi. Trong thực hành Lục Hào, hành của Chi mới là lớp thường được dùng trước để đối chiếu sinh khắc. Vì vậy sau mỗi cặp Can Chi, nên tự hỏi Chi ấy thuộc hành gì.
Lỗi cuối là xem Nạp Giáp như phần luận nghĩa. Nạp Giáp chỉ giúp lập bảng dữ kiện. Ý nghĩa cát hung phải đến sau, khi đã xét việc hỏi, hào động, hào biến, cung, Lục Thân, nhật nguyệt và các quan hệ liên quan.
Ghi Nhớ
Nạp Giáp là phép đặt Thiên Can và Địa Chi vào sáu hào. Khi gặp một quẻ kép, ba hào dưới lấy Can Chi của nội quái, ba hào trên lấy Can Chi của ngoại quái. Càn và Khôn có phân biệt nội ngoại về Thiên Can; các quái còn lại dùng một Can cho cả hai phần.
Khi tự học, hãy ghi theo mẫu: tên quẻ, nội ngoại quái, sáu cặp Can Chi từ hào một đến hào sáu, hành của từng Chi. Sau đó mới đem bảng ấy nối với cung và hành cung đã tìm ở Tầm Cung Pháp. Làm được như vậy, bài Lục Thân Nạp Quái phía sau sẽ có nền rõ và dễ theo hơn.